Dự tiệc cưới diễn viên đàn em, người đẹp 7X diện bộ váy ngắn, cắt xẻ táo bạo gam màu cam thu hút sự chú ý của khách mời.
Tuesday, 8 November 2016
'Gái nhảy' Minh Thư mặc sexy dự tiệc cưới Khánh Hiền
Sống chung với người đã có vợ, có bị xử phạt không?
Sống chung với người đã có vợ là vi phạm pháp luật và cả hai người có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Hỏi: Bạn em yêu một người đã có vợ con và bạn em cũng biết điều đó. Tuy nhiên, hai người vẫn thuê một căn hộ ở Hà Nội và sống với nhau như vợ chồng. Anh này thỉnh thoảng mới về quê thăm vợ con, còn chủ yếu là ở Hà Nội sống với bạn em. Đề nghị Luật sư tư vấn, hai người này có vi phạm pháp luật không?
Lưu Thị Phương Thảo (Nam Định).
Trả lời:.
Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định việc bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau: “2. Cấm các hành vi sau đây: a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”.
Điều 48 Nghị định số 67/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 14 tháng 08 năm 2015 sửa đổi, bổ sung Nghị định 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau: "1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ”.
Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng như sau: “1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Như vậy, pháp luật cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Do đó, bạn của chị và người yêu chung sống như vợ chồng là vi phạm pháp luật và cả hai người có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Trong trường hợp bạn chị và anh người yêu đã bị xử phạt hành chính về hành vi chung sống với nhau như vợ chồng nêu trên hoặc đã có quyết định hủy việc chung sống với nhau như vợ chồng của Tòa án mà vẫn tiếp tục thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
Labels:
luật sư,
ngoại tình,
người thứ ba,
tự vẫn,
xử phạt
Monday, 25 July 2016
Từ 1/8: Vượt đèn vàng bị phạt đến 2 triệu đồng
Bắt đầu từ ngày 1/8/2016 người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vượt đèn vàng bị xử phạt từ 1.200.000đ-2.000.000đ.
Đây là nội dung đáng chú ý được quy định tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm giao thông trong lĩnh vực đường bộ và đường sắt (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2016).
Theo đó, khi người tham gia giao thông nếu vượt đèn vàng sẽ bị xử phạt như vượt đèn đỏ (hiện hành theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP thì mức phạt đối với hành vi vượt đèn vàng thấp hơn vượt đèn đỏ), cụ thể như sau:
Xử phạt vi phạm giao thông đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vượt đèn vàng từ 1.200.000 - 2.000.000 đồng (Căn cứ Điểm a, Khoản 5, Điều 5 của Nghị định 46).
Xử phạt vi phạm giao thông đối với người điều khiển mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vượt đèn vàng từ 300.000 - 400.000 đồng (Căn cứ Điểm c, Khoản 4, Điều 6 của Nghị định 46).
Xử phạt vi phạm giao thông đối với người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dùng vượt đèn vàng từ 400.000 - 600.000 đồng (Căn cứ Điểm g, Khoản 4, Điều 7 của Nghị định 46).
Xử phạt vi phạm giao thông đối với người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vượt đèn vàng từ 60.000 - 80.000 đồng (Căn cứ Điểm h, Khoản 2, Điều 8 của Nghị định 46).
Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng - Trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; Trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.
Có thể hiểu khi đèn tín hiệu chuyển từ xanh sang vàng - Nếu người tham gia giao thông đã điều khiển phương tiện đi qua vạch sơn thì có quyền đi tiếp. Còn nếu chưa đi qua vạch sơn thì phải dừng lại.
Chánh án Tòa Tối cao yêu cầu xem xét lại vụ 'cướp giật bánh mì'
Ngày 25-7, TAND Tối cao đã có Văn bản số 177/TANDTC-V1 gửi chánh án TAND TP.HCM về việc xét xử vụ án Ôn Thành Tân và Nguyễn Hoàng Tuấn trong vụ án cướp giật bánh mì ở quận Thủ Đức.
Văn bản nói trên do Phó Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Sơn ký thay Chánh án TAND Tối cao (ông Nguyễn Hòa Bình) và được đăng tải công khai trên website của TAND Tối cao.
Văn bản này cho biết ngày 24-7, tại trụ sở TAND Tối cao tại Hà Nội, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình đã chủ trì cuộc họp nghe đại diện TAND TP.HCM báo cáo về nội dung và quá trình giải quyết vụ án cướp giật bánh mì xảy ra ở quận Thủ Đức, TP.HCM.
Theo báo cáo của đại diện TAND TP.HCM, trong vụ án này Ôn Thành Tân, sinh ngày 10-9-1998 (khi phạm tội 17 tuổi một tháng tám ngày) và Nguyễn Hoàng Tuấn, sinh ngày 15-8-1998 (khi phạm tội 17 tuổi một tháng 27 ngày), bị VKSND quận Thủ Đức truy tố về tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999. TAND quận Thủ Đức, TP.HCM kết án về tội cướp giật tài sản và ban hành mức án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 325/2016/HSST ngày 20-7-2016.
Trong vụ án này, các bị cáo Tân và Tuấn có hành vi cướp giật tài sản. Tuy nhiên, khi phạm tội các bị cáo đều là người chưa thành niên; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 45.000 đồng là không lớn và đã được thu hồi, trả lại cho người bị hại; sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; về nhân thân, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Sau khi nghe báo cáo chi tiết nội dung vụ án và quá trình xét xử, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Hòa Bình kết luận:
Theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự (nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội) phải đặt ra năm vấn đề:
Một là: Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích trong xã hội.
Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
Hai là: Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng nhưng gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
Ba là: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Bốn là: Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của bộ luật này.
Năm là: Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù.
Căn cứ vào các quy định nêu trên, việc cơ quan điều tra và VKS áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam đối với các bị cáo Ôn Thành Tân và Nguyễn Hoàng Tuấn là không cần thiết. Khi thụ lý vụ án, TAND quận Thủ Đức, TP.HCM đã thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là đúng quy định của Điều 69 Bộ luật Hình sự, Điều 88 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Tân là người rủ bị cáo Tuấn đi cướp giật tài sản và là người điều khiển xe chở Tuấn đến nơi thực hiện tội phạm, sau đó chở Tuấn tẩu thoát. Tuy nhiên, TAND quận Thủ Đức lại nhận định bị cáo Tuấn có nhân thân không tốt vì có hành vi trộm cắp tài sản và đang bị VKSND huyện Củ Chi truy tố tại Cáo trạng số 117/Ctr/VKS-HS ngày 05-5-2016 nên đã tuyên hình phạt cao hơn bị cáo Tân là đánh giá không đúng vai trò của các bị cáo trong vụ án.
“Ở thời điểm này, bị cáo Tuấn chưa bị xét xử bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi trộm cắp tài sản thì không bị coi là tình tiết tăng nặng là tái phạm, đồng thời về nhân thân của bị cáo cũng chưa bị xử phạt hành chính. Do đó, việc tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Tân tám tháng 20 ngày tù và bị cáo Tuấn 10 tháng tù quá nghiêm khắc…” - Chánh án Nguyễn Hòa Bình thẳng thắn kết luận.
Để bảo đảm việc giải quyết vụ án trên đúng quy định của pháp luật, đồng thời rút kinh nghiệm vụ án này, Chánh án TAND Tối cao yêu cầu:
Giao TAND TP.HCM khẩn trương kiểm tra để xác định: Nếu có kháng cáo của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo hoặc có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKSND TP.HCM đối với bản án sơ thẩm, thì TAND TP.HCM thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Khi xét xử phúc thẩm vụ án, tòa án cấp phúc thẩm cần nghiên cứu kỹ quy định của Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để quyết định áp dụng nguyên tắc, biện pháp xử lý đối với các bị cáo Ôn Thành Tân và Nguyễn Hoàng Tuấn, bảo đảm đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
Trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giao chánh án TAND Cấp cao tại TP.HCM rút hồ sơ vụ án để xem xét việc kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm và đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND Cấp cao tại TP.HCM xét xử giám đốc thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với TAND các cấp, khi xét xử các vụ án hình sự phải chấp hành nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với các bị cáo, đặc biệt là đối với bị cáo là người chưa thành niên. Các tòa án phải nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính độc lập trong xét xử để ra các bản án bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không được ra bản án, quyết định có nội dung chấp nhận sai sót nghiêm trọng của cơ quan điều tra, VKS trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự.
Wednesday, 15 June 2016
Thủ tục kiện dân sự theo quy định mới
Tôi đang có tranh chấp vay nợ, muốn khởi kiện đề nghị tòa án giải quyết nhưng không biết theo Bộ luật tố tụng dân sự mới (có hiệu lực từ 1/7), việc này thay đổi thế nào?
Labels:
án dân sự,
dân sự,
khỏi kiện,
kiện,
luật sư,
tranh chấp,
tư vấn pháp luật
Cư xử thế nào để không bị hiểu là quấy rối tình dục nơi công sở?
Sếp tôi thường bị nhân viên nữ cho rằng có hành động khiếm nhã song đại diện công ty nói ông ấy chỉ thể hiện sự quan tâm, trêu đùa bình thường chứ không phải là quấy rối tình dục.
Phó giám đốc công ty tôi thường bị nhân viên nữ cho rằng có hành động khiếm nhã. Chúng tôi nhiều lần phản ánh lên công đoàn cũng như ban giám đốc nhưng đều nhận được câu trả lời việc làm của ông ấy chỉ là thể hiện sự quan tâm với nhân viên hoặc trêu đùa bình thường chứ không phải quấy rối tình dục.
Tôi xin hỏi theo quy định của pháp luật, những hành vi nào được coi là quấy rối tình dục nơi công sở? Người có hành vi này bị xử phạt thế nào?
Labels:
công sở,
hành vi,
luật sư,
mức phạt,
quấy rối tình dục,
tư vấn pháp luật
Wednesday, 4 May 2016
Xử phạt ô tô đi sai làn đường thế nào?
Luật Giao thông đường bộ quy định người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
Theo đó, khi người điều khiển ô tô đi vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ, tức là đã đi không đúng làn đường quy định và sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2014).
Cụ thể tại Điểm c, Khoản 4, Điều 5 quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”. Ngoài ra, với vi phạm này, theo Điểm b, Khoản 11, Điều 5, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.
Như vậy, người điều khiển ô tô khi đi sai làn đường quy định sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.
Theo đó, khi người điều khiển ô tô đi vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ, tức là đã đi không đúng làn đường quy định và sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2014).
Cụ thể tại Điểm c, Khoản 4, Điều 5 quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”. Ngoài ra, với vi phạm này, theo Điểm b, Khoản 11, Điều 5, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.
Như vậy, người điều khiển ô tô khi đi sai làn đường quy định sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.
Nhà đầu tư nước ngoài thành lập hiện diện thương mại theo hình thức nào?
Nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo các hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp có vốn nước ngoài, chi nhánh và văn phòng đại diện.
1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đối với doanh nghiệp nước ngoài nói riêng, hiện diện thương mại theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh sẽ không thành lập tổ chức kinh tế.Căn cứ theo Luật Đầu tư 2014, hình thức hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là sự thỏa thuận giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài.
Theo đó các bên cùng kinh doanh, góp vốn, phân chia lợi nhuận và chịu rủi ro chung mà không thành lập một pháp nhân mới. Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức cho các nhà đầu tư.
Hình thức này cho phép các bên hoạt động với tư cách pháp lý độc lập, linh hoạt giải quyết các vấn đề, nhưng vẫn có thể hỗ trợ cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, vì không thành lập pháp nhân mới, PLF lưu ý các bên ký kết hợp đồng BCC cần thỏa thuận chặt chẽ về việc quản lý dự án, lựa chọn con dấu, quyền đại diện tham gia ký kết hợp đồng, v.v… để tránh những tranh chấp phát sinh trong quátrình hợp tác.
2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tùy thuộc vào lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh mà Nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc bắt buộc liên doanh với thương nhân Việt Nam theo một tỷ lệ vốn góp nhất định.Trong trường hợp liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn gópcủa một thương nhân Việt Nam theo tỷ lệ luật định và phù hợp với các điều ước quốc tế Việt Nam đã ký kết.
3. Chi nhánh và văn phòng đại diện
Hình thức thành lập hiện diện thương mại cuối cùng đó là các nhà đầu tư có thể thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam. Theo quy định tại Nghị định 72/2006/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật nước thương nhân đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh công nhận hợp pháp, sẽ được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện nếu đã hoạt động không dưới 1 năm và được thành lập chi nhánh nếu đã hoạt động không dưới 5 năm.
Sunday, 6 March 2016
Chấm dứt hợp đồng lao động không được tính lương phụ cấp
Kính gửi Luật sư và chuyên mục Tư vấn pháp luật.
Khi tôi làm việc cho 1 Công ty thì tôi ký HĐLĐ trong đó ngoài việc ghi nhận mức lương chính, trên HĐ còn có ghi "Hưởng lương kinh doanh, các khoản phục cấp khác" như: PC công tác, phụ cấp trách nhiệm... các khoản này tương đối lớn trong tổng thu nhập của tôi.
Nhưng khi Công ty chấm dứt HĐLĐ với tôi theo nguyện vọng của tôi thì Công ty tính trợ cấp thôi việc chỉ căn cứ trên lương chính mà không tính các khoản khác kể cả lương kinh doanh hàng tháng tôi được nhận. Như vậy Công ty căn cứ vào mức lương chính để tính thì có đúng không? Căn cứ pháp luật? (tôi vào làm từ 2007 đến nay).
Tương tự, trường hợp các khoản lương kinh doanh, phụ cấp nêu trên không ghi nhận cụ thể trên HĐ là bao nhiêu nhưng được ghi trên các tờ trình, quyết định khi có phát sinh thì những khoản này cũng có được tính là mức lương để tính trợ cấp thôi việc không?
Tôi vẫn biết khi giao kết HĐ thì Công ty chỉ ghi nhận mức LCB để đóng BH, còn các khoản khác thì không ghi cụ thể trên HĐ nhưng nếu vì vậy mà không tính các khoản này khi chi trả trợ cấp thì thiệt thòi cho người lao động. Xin chân thành cảm ơn Luật sư và chuyên mục.
Labels:
pháp luật,
tư vấn pháp luật
Sống như vợ chồng và có con với Việt kiều
Chào luật sư. Tôi sống như vợ chồng với 1 người đàn ông việt kiều Úc tại Việt Nam từ năm 2012 đến nay có 1 con chung 1 tuổi. Anh chỉ sống bên Úc khoảng 1 tuần rồi quay lại sống cùng nhà với mẹ con tôi ( anh đăng kí tạm trú tại địa chỉ của tôi). Giấy khai sinh của cháu tại Việt Nam mang họ bố.
Tình trạng hôn nhân của anh: tách mẫu bên Úc nhưng chưa ra tòa vì còn vướng giải quyết tài sản chung ở Việt Nam (anh muốn giải quyết xong ở VN rồi mới ra toà Úc).
Gần đây do mâu thuẫn nên tôi quyết định chia tay (dù chưa đăng kí kết hôn) nhưng ai cũng muốn giữ bé. Xin hỏi luật sư, nếu tôi để anh nuôi con (anh mang con trở lại Úc) thì tôi có sợ mất con không? Vì anh nói anh có quyền mang bé đi. Thứ 2, nếu anh để lại con cho tôi thì tôi và cháu có quyền lợi gì về việc xin định cư Úc không? Chân thành cảm ơn luật sư!
Subscribe to:
Comments (Atom)